Trang nhất
  Xã Luận
  Đọc Báo Trong Nước
  Truyện Ngắn
  Kinh Tế
  Âm vang sử Việt
  Tin Thể Thao
  Y Học
  Tâm lý - Xã hội
  Công Nghệ
  Ẩm Thực

    Diễn Đàn Biển Đông
Bắc Kinh yêu cầu Manila ngừng khiêu khích ở Biển Đông
    Hình Ảnh Quê Nhà - Video Clip
Nồng ấm Tết cổ truyền dân tộc Khmer Chôl Chnăm Thmây
    Tin Thế Giới
Mỹ và Trung Quốc đàm phán AI: Cơ hội hợp tác hay nguy cơ va chạm?
    Tin Việt Nam
Điện mừng Ngày Nhà vua Hà Lan
    Tin Cộng Đồng
Nổ tại căn cứ quân sự Campuchia, 20 binh sĩ thiệt mạng
    Tin Hoa Kỳ
Mật vụ Mỹ lên kế hoạch bảo vệ trong trường hợp ông Trump bị giam giữ
    Văn Nghệ
Huế
    Điện Ảnh
David Beckham kiện tài tử 'Transformers'
    Âm Nhạc
Danh tính nữ ca sĩ Việt may mắn gặp Rosé (Blackpink), lại còn chiêu đãi fan ảnh cam thường
    Văn Học
Bắt học sinh đi học ngày nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương, hiệu trưởng bị xem xét kỷ luật

Thông Tin Tòa Soạn

Tổng biên tập:
Tiến Sĩ
Nguyễn Hữu Hoạt
Phụ Tá Tổng Biên Tập
Tiến Sĩ
Nhật Khánh Thy Nguyễn
Tổng Thư ký:
Quách Y Lành




   Âm vang sử Việt
Trần Nhân Tông: Trí giả anh minh, nhà văn hóa kiệt xuất
Nhậm ngôi cao, lập công lớn, sớm thành bậc thượng trí minh triết, Trần Nhân Tông kịp dành phần lớn cuộc đời mình để phụng sự cho cộng đồng.

 


Bài trình bày của Phó Giáo sư Trần Ngọc Vương tại Hội nghị Trần Nhân Tông về Hoà giải tổ chức tại Harvard Faculty Club, ĐH Harvard,  Mỹ ngày 21/9/2012.

 

Trong lịch sử Việt Nam từ sau thời điểm phục hưng được chủ quyền quốc gia (939), hiện tượng những người có thân phận ra đời trong hoàng gia, được quyền kế thừa ngôi vua hoặc ít nhiều có cơ hội để tranh đoạt ngôi vị đó nhưng lại thờ ơ với nó trên thực tế không phải là hiếm. Cả khi đã đăng cơ, một vài trong số họ vẫn nuôi giữ ý định rời bỏ ngôi vị. Có thể kể một số trường hợp tiêu biểu, chẳng hạn như cháu đích tôn của Ngô vương Quyền là Ngô Xương Tỷ, xuất gia tu hành ngay từ thời ông nội còn tại vị, về sau là vị Quốc sư của cả nhà Đinh và nhà Tiền Lê: Khuông Việt Đại sư Ngô Chân Lưu; Lý Nhân Tông từng hờ hững với ngôi vua để đến nỗi xảy ra vụ kỳ án Lê Văn Thịnh.

 

Trần Thái Tông từng bỏ ngôi vua trốn triều đình lên Yên Yử quyết chí tu hành với câu nói nổi tiếng "Ta đã trút bỏ ngôi vua như trút bỏ đôi giày rách" tuy rồi lại không từ bỏ được...

 

Sử gia nhà Nho các đời sau khi chép sử triều Trần đều chung hàm ý đánh giá, rằng nhà Trần "về khoan hậu thì có thừa mà về nghiêm trọng (nghiêm khắc, trang trọng) thì không đủ".

 

Đương nhiên, khuynh hướng vận động chung của hệ tư tưởng xuyên suốt từ Ngô, Đinh cho tới tận triều Nguyễn vẫn là càng ngày càng thần thánh hóa, tuyệt đối hóa ngôi vua, vì thế mà nhìn chung, lịch sử càng nối dài thì sự chồng tầng theo hình kim tự tháp của kết cấu xã hội càng trở nên nặng nề, và khát vọng vươn lên địa vị tột đỉnh ở mỗi cá thể, vì thế cũng ngày càng mãnh liệt. Nhưng cuộc đời và hành trạng của Trần Nhân Tông trong thực tế lại đặt ra một số vấn đề theo một đường hướng khác.

 

Để hiểu Trần Nhân Tông, hẳn rằng phải trả lời một câu hỏi đặc biệt: rằng khi ai đó đã có địa vị (thậm chí từ thuở lọt lòng) là "bề trên tự nhiên", một vị trí độc đắc, tối thượng mà bối cảnh lịch sử - cụ thể không làm xuất hiện đối thủ tranh giành, rồi người đó lại được hưởng thụ một nền giáo dục hoàn hảo bậc nhất của thời đại mình, tự giáo dục một cách ráo riết với một tư chất bẩm sinh là phi phàm, thì rốt cuộc, người ấy có thể muốn gì và có thể làm gì với đời sống và sinh mệnh của chính mình, theo yêu cầu tối ưu hóa tồn tại?

 

Triết lý sống xuất hiện từ xa xưa trong nền văn hóa Trung Hoa rồi phổ cập ra toàn vùng Đông Á về mục tiêu rốt ráo của đời người là làm sao để "dự" được vào một trong ba vị trí: lập đức, lập công hay lập ngôn, gọi là "tam bất hủ".

 

Mẫu người cầm quyền lý tưởng theo Nho giáo là thánh vương, trên thực tế lịch sử là hiền nhân lập đức. Thánh hiền Nho gia nói chung chính là mẫu người lập đức, kết hợp nhiều ít với tiêu chí lập ngôn. Nhưng thánh hiền Nho gia không ai thực sự lập được "đại công", hiểu theo nghĩa có một sự nghiệp chính trị nổi bật lúc sinh thời.

 

Pháp gia không đưa ra hình mẫu mang tính lý tưởng thực thụ, vì đó là một học thuyết cai trị theo tinh thần duy lợi, thực dụng nhưng tìm ra từ các công trình mang tính lý thuyết cơ bản của các nhà tư tưởng thuộc phái này, thì mẫu người cầm quyền đáng được đề cao nhất chính là mẫu người cầm quyền có đại công.

 

Trong lịch sử chính trị của Trung Quốc, một lịch sử chính trị có thực chất "nội Pháp ngoại Nho", "thập đại đế vương" chính là những Hoàng đế được ghi nhận trên đường hướng này. Không ai trong số các đế vương nhờ lập ngôn mà trở nên hiển hách trong lịch sử. Phần lớn các "đại đế vương" Trung Hoa có khuyết tật trong nhân cách.

 

Với tất cả những dữ kiện lịch sử khả tín còn lại đến nay mà mình có thể biết, với tư cách nhà khoa học, cá nhân tôi không tìm thấy những bằng chứng để nhận xét rằng Trần Nhân Tông có thể có những tỳ vết nào đó về phương diện đức hạnh!

 

Sử thần Nho gia về sau từng đưa ra lời đại nghị, rằng Ngài "bẩm được tinh anh thánh nhân, thần khí tươi sáng, thể chất hoàn hảo". Dường như "luật thừa trừ" ("bỉ sắc tư phong" - được cái này thì mất cái kia) đã lảng tránh, không đụng chạm tới Ngài!

 

Kinh nghiệm cho thấy, để hiểu một nhân vật lịch sử ở những tầng sâu kín nhất của họ, thường cần phải xâm nhập vào những trước tác hay những di ngôn, di chúc mà họ để lại. Chả thế mà S. Freud cùng các đồ đệ đã nhất trí cho rằng nghệ thuật và những giấc mơ cung cấp cho ta hình ảnh thăng hoa của những gì các "đương sự" không hoặc chưa thể thực hiện trong đời thực. Vô số khát vọng của con người, của cả các vĩ nhân, quằn quại, giãy dụa roi rói trong các con chữ, mặc cho thể xác họ đã từ lâu tuần hoàn trong hoàn vũ. Nhưng đọc hết những trước tác mà Trần Nhân Tông để lại, lại cơ hồ không tìm thấy dấu vết của những "mộng ước chưa thành" ấy. Chỉ có thể cho rằng, Ngài đã sống một cuộc đời không còn gì đáng để có thể ước mơ cao hơn, xa hơn!

 

Nhận chân về tính hữu hạn của đời người trên tất cả mọi bình diện, đó không phải là một phát hiện gì mới mẻ, nhất là ở các bậc được coi là đại trí xưa nay. Nhưng kể cả các bậc đại trí cũng chỉ thường nhận ra những giới hạn sau những thể nghiệm thất bại, và cũng thường phải đợi tới độ tuổi "sang nửa bên kia" của đời người. Vào một ngày "Xuân muộn" (Xuân vãn), Trần Nhân Tông cũng thể nhận điều đó:

 

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không

 

Nhất xuân tâm tại bách hoa trung

 

Như kim kham phá Đông hoàng diện

 

Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng

 

(Tuổi trẻ chưa từng hiểu thế nào là "sắc", "không"

 

Mỗi độ xuân về lòng để giữa trăm hoa

 

Nay khi đã khám phá ra khuôn mặt chúa xuân

 

Thì ngồi thiền trên tấm bồ đoàn nhìn hồng rụng).

 

Nhưng dường như sự thể nhận này ở Trần Nhân Tông không xuất lộ bởi những trải nghiệm đắng cay nào đó trong đời sống của chủ thể, và cũng chỉ vào thời khắc "muộn của mùa Xuân" chứ không là "buồn tàn thu" hay "sầu đông" ảo não. Tính chất an nhiên lộ rõ trong từng chữ.

 

Những bậc thánh triết Đông phương thường thường chỉ bàn về mọi lẽ một khi đã "liễu sinh tử", tức đã thông hiểu tận cùng "căn nguyên và cơ cấu của sự sống và sự chết". Làm chủ được "lẽ tử sinh", với cơ hồ tất cả họ, mới xác lập được tiên đề cho việc luận đàm về mọi điều còn lại. Không chỉ Phật giáo, mà các học thuyết hay tôn giáo khác trong toàn khu vực cũng khá đồng quy trong tinh thần đó. Đứng trên lằn ranh giới của cuộc sinh tồn, chính là xác lập một tọa độ lý tưởng để có thể "quán chiếu" rốt ráo đối với mọi "ỉ eo đời thường" khác.

 

Nhậm ngôi cao, lập công lớn, sớm thành bậc thượng trí minh triết, Trần Nhân Tông kịp dành phần lớn cuộc đời mình để phụng sự cho cộng đồng. Khác với rất nhiều những triết nhân một khi đã tự cho mình là đấng toàn tri (omniscience) thì cũng bị ám ảnh bởi một thứ chủ nghĩa bi quan triết học, Trần Nhân Tông truyền cho đời sống một cảm xúc chí ít phải được đánh giá là lạc quan, nếu không cho rằng đó là một thái độ "ngày hằng sống, ngày hằng vui".

 

Tinh thần "hòa quang đồng trần", "cư trần lạc đạo", "tam giáo tịnh hành" ... nhờ thế trở thành "phong cách sống" của rất nhiều nhân vật văn hóa - lịch sử của thời đại. Dưới triều đại của Ngài, từ quý tộc, văn nhân, võ tướng, nhân gian bách tính cho đến những người thân phận thấp kém như hoạn quan, gia nô, nô tỳ, cho cả đến tù binh, tù nhân, những nhóm dân cư do hoàn cảnh cụ thể lâm vào tình thế tha phương cầu thực hay bị hạn chế tự do, đều nhất loạt trở nên "dễ sống" hơn, vui sống hơn.

 

Cá nhân Trần Nhân Tông, trong khi vừa tiếp tục thực thi những bổn phận "thế tục", "hàng ngày" của mình, vừa làm nhà cầm quyền tối cao, vừa làm nhà ngoại giao kỳ đặc (cả trong những tình huống ứng xử đối nội lẫn đối ngoại), làm vị tướng song toàn, làm con hiếu thuận, làm cha nghiêm từ, làm em, làm anh độ lượng.., lại còn vừa lo nghĩ, tính toán nhiều đại sự cho nhiều thế hệ tiếp theo.

 

Chỉ với những gì thư tịch còn sót lại đến nay, có thể khẳng định Trần Nhân Tông là một tác giả văn chương vừa tinh tế vừa đa phong cách. Một trong những đóng góp đặc biệt của Trần Nhân Tông với tư cách tác giả văn học thể hiện ở chỗ Ngài chính là tác giả quan trọng đầu tiên còn để lại những tác phẩm lớn bằng chữ Nôm (với hai tác phẩm Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca), góp phần quan trọng kiến tạo nên bộ phận văn học viết bằng ngôn ngữ ghi lại tiếng nói của dân tộc.

 

Như nhiều học giả đã khẳng định, Thiền phái Trúc Lâm do Ngài sáng lập và trở thành Trúc Lâm đệ nhất tổ vừa kế thừa được tinh hoa của Thiền Tông nói chung, vừa kết tinh những thành tựu tu tập và quán tưởng của các hành giả bản địa, để trở thành một Thiền phái mang đậm sắc thái dân tộc mà đặc điểm hàng đầu là tinh thần nhập thế lạc quan, lại cũng vừa là nơi thể nghiệm sự kết hợp, dung hòa thêm các thành tố có nguồn gốc tôn giáo, tín ngưỡng hay học thuyết khác.

 

Tinh thần "dung tam tế" của các bậc quốc sư từ nhiều triều đại trước đến đây mở rộng hết tầm vóc. Một trong những chứng tích có ý nghĩa nhiều mặt được truyền thông rộng rãi gần đây chính là việc đấu giá phiên bản của bức họa Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ mà bản gốc được coi là quốc bảo đang được bảo vệ và lưu trữ ở Trung Quốc.
DanQuyen.com
    Phản Hồi Của Độc Giả Về Bài Viết
Họ và Tên
Địa chỉ
Email
Tiêu đề
Nội dung
Gửi cho bạn bè Phản hồi

Các bài viết mới:
    Sự tích về chúa Nguyễn Ánh và núi Bà Đen (18-02-2024)
    Chuyến thám hiểm dãy Trường Sơn của bác sĩ Yersin 133 năm trước (14-02-2024)
    Thêm 29 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận là Bảo vật Quốc gia (18-01-2024)
    Tặng thưởng Huân chương Dũng cảm cho 'thủ lĩnh' nhóm cứu hộ FAS Angel (26-12-2023)
    Bolero trở thành Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại (06-12-2023)
    Bảo tồn nghề truyền thống của người Tày gắn với phát triển du lịch cộng đồng (27-11-2023)
    Dòng chảy văn hóa Việt trong thiết kế nội thất (21-10-2023)
    Hội thảo đẩy mạnh sự phát triển võ cổ truyền Việt Nam (03-08-2023)
    Phát hiện khẩu súng thần công dài gần 2 m thời triều Nguyễn (16-07-2023)
    Di sản Thế giới đầu tiên tại Việt Nam được UNESCO vinh danh, giờ ra sao? (17-06-2023)
    Hành trình 30 năm Di sản văn hóa Huế hội nhập thế giới (15-06-2023)
    Khai mạc hội Gióng - Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (26-05-2023)
    Thành kính lễ Giỗ Tổ Hùng Vương tại Liên bang Nga (29-04-2023)
    Festival nghề truyền thống Huế 2023: Tôn vinh tinh hoa nghề bún (29-04-2023)
    Sắc phong Việt Nam bị rao bán tại Trung Quốc: Các bên tiếp tục phối hợp xử lý (20-04-2023)
    Mở lối cho việc trùng tu biệt thự Pháp cổ xuống cấp tại Hà Nội (15-04-2023)
    Ông Mai Hữu Tín tiếp tục được bầu Chủ tịch Vovinam Việt Nam (15-04-2023)
    Sắc phong của Việt Nam có thể bị rao bán ở Trung Quốc, Bộ VHTT&DL lên tiếng (12-04-2023)
    UNESCO 'hiến kế' cho Hà Nội bảo tồn và phát huy giá trị di sản (27-03-2023)
    Vị Công tôn nữ cuối cùng làm gối tựa cung đình Huế qua đời (25-03-2023)

Các bài viết cũ:
    Một vài tham quan khét tiếng trong sử Việt (26-07-2016)
    Hé lộ về 7 bà vợ của Hoàng đế Quang Trung (20-07-2016)
    Đinh Tiên Hoàng và những cuộc hôn nhân chính trị (15-07-2016)
    Cuộc khởi nghĩa đẫm máu của 'Hoàng đế' Phan Xích Long (08-07-2016)
    Những vị vua học vấn uyên thâm nhất lịch sử Việt Nam (29-06-2016)
    Quan võ thời xưa được thi tuyển như thế nào? (21-06-2016)
    Việt Nam sẽ thế nào nếu vua Quang Trung sống lâu hơn? (14-06-2016)
    Chuyện về đội nữ binh bí mật của vua Thành Thái (08-06-2016)
    Cuộc hành hình lạ lùng nhất trong lịch sử Việt Nam (01-06-2016)
    Đại Việt thời Trần đã 'thoát Trung' như thế nào? (26-05-2016)
    Vua Duy Tân: Nước bẩn thì lấy máu mà rửa (17-05-2016)
    Thành Đa Bang và trận đánh quyết định số phận nhà Hồ (10-05-2016)
    10 chiến dịch quân sự khó tin trong lịch sử Việt Nam (05-05-2016)
    Vì sao Thanh Hóa là cái nôi sản sinh vua chúa Việt? (28-04-2016)
    Ẩn số lịch sử về Hùng Kính Vương - vị Vua Hùng thứ 19 (21-04-2016)
    Một cái nhìn về cuộc cải cách chính trị của Hồ Quý Ly (13-04-2016)
    22 lá thư gửi cho kẻ thù của vua Trần Nhân Tông (06-04-2016)
    Cuộc sinh tồn và sự thất truyền của văn minh Việt cổ (02-04-2016)
    Những nhà sáng chế nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam (30-03-2016)
    Chuyến đi sứ lâu nhất trong lịch sử Việt Nam (27-03-2016)
 
"Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam".

Chuyển Tiếng Việt


    Truyện Ngắn
Xa Xóm Mũi


   Sự Kiện

Lời Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn





 

Copyright © 2010 DanQuyen.com - Cơ Quan Ngôn Luận Người Việt Hải Ngoại
Địa Chỉ Liên Lạc Thư Tín:
E-mail: danquyennews@aol.com
Lượt Truy Cập : 152749561.